17/01/2015 06:18:34 AM - Lượt xem: 1212
ở Trung Quốc, trong vài chục nǎm gần đây đã có hơn 70 công trình nghiên cứu sử dụng kỹ thuật châm cứu để điểu trị hen phế quản. Chúng tôi xin giới thiệu một số kinh nghiệm của các nhà châm cứu nước bạn để các độc giả tiện bề tham khảo thêm.

1 Vương Toàn Thụ ( 1 988) xây dựng phác đồ trên cơ sở biện chứng phân hình với 4 thể bệnh: (1) Phế hư. huyệt chính gồm định suyễn, thái uyên, châm bình bổ, bình tả; huyệt phụ gồm chiên trung, thiên lịch, châm tả. Định suyễn châm xiên hướng về cột sống sâu chừng 1 thốn, thái uyên châm thẳng sâu 5 phân, lưu kim 10 - 20 phút. Hiệu quả đạt 94,87%. (2) Thận hư: huyệt chính gồm định suyễn, thái uyên; huyệt phụ gồm thận du, thái khê. Hiệu quả đạt 78,57%. (3) Phong hàn: huyệt chính như (l) và (2), huyệt phụ gồm phong trì, phong môn. Trị liệu 71 ca, đạt hiệu quả 98,65%. (4) Phong nhiệt: huyệt chính như (l) và (2), huyệt phụ gồm đại chùy, hợp cốc. Trị liệu 41 ca, đạt hiệu quả 97,56%.

2. Hà Thụ Hòe (1981) chọn chiên trung, nội quan, liệt khuyết, túc tam lý và phong trì; phế hư gia thái khê, thái bạch; tỳ hư gia thái bạch, tam âm giao; thận hư gia thái khê hoặc chiếu hải; đàm trệ gia phong long. Tùy theo bệnh tình cụ thể hư thì bổ, thực thì tả, lưu kim 20 phút. Châm cách nhật, 10 lần là 1 liệu trình, giữa 2 liệu trình nghỉ 1 tuần. Trị liệu 62 ca, đạt hiệu quả 87,1%.

3. Quách Liên Hán (1990) chọn phế du, định suyễn, liệt khuyết, thiên đột, chiên trung; thời kỳ phát tác gia họp cốc, nội quan, khúc trì; thời kỳ hoãn giai gia phế du, túc tam lý, tam âm giao; cơn hen liên tục gia thận du, phong long, huyết hải. Châm lưu kim 20 - 30 phút, mỗi tuần châm 1 lần, liên tục 4 - 6 lần là 1 liệu trình. Trị liệu 150 ca, đạt hiệu quả 93,3%.

 

4. Yêu Trung Bá (1990) trị tiêu chọn định suyễn, liệt khuyết, hợp cốc chiên trung, xích trạch; trị bản chọn phế du, linh dài thận du, túc tam lý, thái khê, thiên đột. Thời kỳ phát tác trị tiêu dùng tả pháp, thời kỳ hoãn giải trị bản dùng bình bổ bình tả pháp. Mỗi ngày châm 1 lần, lưu kim 10 phút, 10 ngày là 1 liệu trình, cốc liệu trình cách nhau 10 ngày. Trị liệu 69 ca, đạt hiệu quả 89,8%.

5. Tôn Lợi Nhân (1959) dùngđơn huyệt nội quan cả hai bên, nam châm bên trái trước, nữ châm bên phải trước, hai huyệt phân biệt thủ pháp bổ tả: hư chứng trước bổ sau tả, thực chứng trước tả sau bổ, lưu kim 3 phút, về kim 7 lần, lay kim lên xuống 7 lần. Trị liệu 285 ca đạt kết quả rất tốt.

6. Triệu Hành Toàn (1977) châm huyệt thanh suyễn (nằm ở giữa sụn giáp và huyệt thiên đột, tương ứng với chỗ tiếp giáp giữa sụn nhẫn và khí quản), dùng kim hào châm dài 1 thốn châm chếch lên trên sâu 0,3 -0,5 thốn sao cho bệnh nhân có cảm giác cǎng tức nhiều, khi đó rút kim ra 1 chút và lại tiến kim theo các hướng xuống dưới, sang phải, sang trái rồi rút kim, không lưu kim. Trị liệu 30 ca đều đạt hiệu quả.

7 . Lưu Trạch Quang ( 1 985) chỉ châm huyệt ngư tế một bên, mỗi ngày 1 lần, mũi kim hướng chếch lên trên sâu chừng 5 phân, lưu kim 20 - 30 phút, cứ 5 phút vê kim 1 lần. Trị liệu 200 ca, đạt hiệu quả 98,5%, trong đó có 1 29 ca ổn định trên 2 nǎm không thấy tái phát.

8. Khúc Kính Lai (1990) châm thẳng huyệt túc tam lý sâu 1- 2 thốn, lưu kim 20 phút, về kim từ 2 - 4 lần. Trị liệu hen phế quản thể tỳ hư 30 ca, đạt hiệu quả 90%.

9. Trương âu Quang (1981) châm các điểm quá mẫn được xác định bằng cách dùng ngón cái bàn tay phải với một áp lực tương đồng dò tìm ở tay, chân, ngực và lưng những vị trí có cảm giác đau, cǎng chướng hoặc tê bì. Nếu các điểm mẫn cảm quá nhiều có thể phân chia thành từng nhóm để luân phiên sử dụng. Thường châm với cường độ kích thích mạnh không lưu kim, 6 ngày là 1 liệu trình, giữa 2 liệu trình nghỉ 7 ngày. Trị liệu 42 ca, đạt hiệu quả 69%.

10. Triệu Tử Hiền (1987) dùng phương pháp dán các hạt vương bất lưu hành lên các huyệt giao cảm, thần môn, chẩm, suyễn, phế, đại tràng, khí quản, mũi trong, thận ở tai. Mỗi ngày ấn 3 - 4 lần, mỗi lần 5 - 10 phút. Trị liệu 40 ca, đạt hiệu quả 98%.

11 . úy Trì Tịnh ( 1 987) dùng bạch giới tử hoặc vương bất lưu hành dán vào các huyệt khí quản, phế, tuyến thượng thận, tiền liệt tuyến ở cả hai tai, 5 ngày thay 1 lần, mỗi ngày ấn 4 lần, mỗi lần ấn mỗi huyệt 1 phút. Trị liệu 60 ca, đạt hiệu quả 95%.

12. Trần Tất Thông (1995) cứu trực tiếp huyệt thiếu thương, mỗi lần 3 - 5 tráng, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Trị liệu 37 ca đạt hiệu quả 73%.

13. Trương Học Giám (1995) sử dụng hai huyệt khổng tối và ngư tế Đầu tiên, dùng kim hào châm đài 1 thốn châm tẫ các huyệt cả 2 bên, sau đó cho điện châm với tần số 160 lần/phút, cường độ vừa phải, lưu kim 30 - 60 phút. Trị liệu 192 ca đạt hiệu quả 98,9%.

14. Mã Minh Phi (1992) châm các huyệt suyễn, huyệt khái ở bàn tay (thủ châm liệu pháp), lưu kim 30 phút, 5 - 10 phút vê kim 1 lần, mỗi ngày châm 1 lần , 10 lần là 1 liệu trình, giữa hai liệu trình nghỉ 1 tuần. Trị liệu 100 ca, đạt hiệu quả 96%.

15. Quản Tuân Huệ (1987) thể phong nhiệt châm các huyệt định suyễn, phong môn xuyên phế du; thể phong hàn gia hợp cốc, liệt khuyết, thể đàm trệ gia tức tam lý, phong long; khó thở nhiều gia quan nguyên, chiên trung; ho nhiều gia xích trạch, thái uyên. Dùng máy nhiệt châm GZH, đảm bảo độ ấm của kim từ 40 - 700c. các huyệt phối hợp châm thường, lưu kim 20 phút. Giai đoạn phát tác châm hàng ngày, mỗi ngày 1 lần, khi các triệu chứng đã giảm có thể châm cách nhật, 6 lần là 1 liệu trình, nghỉ 3 - 5 ngày rồi châm tiếp 1 liệu trình nữa. Trị liệu 64 ca, đạt hiệu quả 96,9%.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn
Khoa đông y - Viện quân y 108

Các tin tức khác