21/07/2018 09:55:24 AM - Lượt xem: 679
Kinh lạc là những con đường lưu thông vận hành khí huyết, đường chính gọi là kinh, đường nhánh gọi là lạc. Kinh lạc chằng chịt khắp cơ thể, cả trong, ngoài, trên, dưới làm thành một hệ thống liên lạc khắp toàn thân. Phần chính của hệ kinh lạc là 12 kinh chính và 2 mạch Nhâm Đốc gộp lại thường gọi là 14 kinh.

ĐƯỜNG ĐI VÀ CÔNG DỤNG CỦA HỆ KINH LẠC

Kinh lạc là những con đường lưu thông vận hành khí huyết, đường chính gọi là kinh, đường nhánh gọi là lạc. Kinh lạc chằng chịt khắp cơ thể, cả trong, ngoài, trên, dưới làm thành một hệ thống liên lạc khắp toàn thân. Phần chính của hệ kinh lạc là 12 kinh chính và 2 mạch Nhâm Đốc gộp lại thường gọi là 14 kinh.

1. Đường đi của Kinh lạc

Khí vận chuyển của các đường kinh theo trình tự nhất định. Khí bắt đầu từ trung tâm đi vào kinh Thủ thái âm phế lần lượt đi qua các kinh, cuối cùng tới kinh Túc quyết âm can rồi trở về kinh Thủ thái âm phế.

Năm 1978, Nguyễn Xuân Tiến - nhà nghiên cứu châm cứu, đã giới thiệu một sơ đố đường tuần hành khí trong 12 kinh phù hợp với lý thuyết âm dương của Y học dân tộc.

Trong riêng từng đường kinh cuộc hành trình của khí cũng theo một quy tắc nhất định, nhìn tổng quát thì:
- 3 kinh âm ở tay bắt đầu từ ngực qua phía trong chi tới tay nối tiếp với 3 kinh dương ở tay.
- 3 kinh dương ở tay bắt đầu từ vùng bàn tay, đi lên mặt dưới cánh tay tới vùng đầu, nối với 3 kinh dương ở chân.
- 3 kinh dương ở chân bắt đầu từ đầu qua thân mình xuống chi dưới tới bàn chân nối tiếp 3 kinh âm ở chân.
- 3 kinh âm ở chân từ bàn chân qua mé trong chi dưới đi lên qua bụng tới ngực lại nối tiếp với 3 kinh âm ở tay.

Sự chuyển vận khí trong 12 đường kinh theo đông y thực hiện trong 24 giờ tức 1 ngày đêm. Từ 1-3 giờ khởi hành từ kinh Thủ thái âm phế để đến 22-24 giờ kinh Thủ quyết âm can để lại sang ngày sau nối tiếp với kinh phế.

Riêng hai đường mạch Nhâm đốc làm một vòng tuần hoàn đặc biệt theo trục đường chính giữa cơ thể.
- Mạch nhâm từ huyệt Hội âm ở giữa bộ phận sinh dục ngoài và Hậu môn theo đường chính giữa trước của bụng ngực đi lên tận cung ở huyệt Thừa tương giữa rãnh cằm môi, nối tiếp với mạch Đốc.
- Mạch Đốc từ huyệt Trường cường ở mõm dưới xương cùng theo đường chính giữa lưng đi thẳng lên đỉnh đầu qua phía trước đầu rồi tận cùng ở huyệt Ngân giao nơi hàm trên.

2. Tác dụng của đường kinh lạc

Tác dụng sinh lý của Kinh lạc: Vận hành khí huyết, nuôi âm dương, làm mềm gân xương, trơn các khớp (Nội kinh). Bên trong kinh lạc thuộc vào tạng hoặc phủ, bên ngoài liên lạc với các đốt toàn thân, làm lưu thông giữa ngoài (biểu) và trong (lý). Liên hệ toàn thân để duy trì chức năng bình thường của cơ thể con người.

Lúc ở trạng thái bệnh, kinh lạc có mối quan hệ với phát sinh và phát triển của bệnh, yếu tố phòng bệnh bên ngoài (ngoại tà) xâm phạm vào cơ thể, nên sự bảo vệ của kinh lạc bị rối loạn thì tà khí đó có thể theo kinh lạc mà truyền vào tạng phủ.

Ngược lại tạng phủ có bệnh cũng có thể dọc theo đường kinh mà phản ánh tới vùng ngoài da tương ứng.

Dựa trên đặc điểm này mà người ta đã áp dụng kinh lạc trong chẩn đoán còn gọi là kinh lạc chẩn.

Ví dụ: Đường đi kinh Túc thiếu dương đởm thì người bệnh có triệu chứng đau mạng sườn, váng đầu hoa mắt miệng đắng có thể nghĩ tới bệnh của kinh Thiếu dương, lại căn cứ sự phân bổ các kinh tại đầu thì một chứng nhức đầu có thể phân biệt là: Đau đầu ở trán có liên quan đến kinh Dương minh. Đau bên đầu liên quan đến kinh Thiếu dương, đau ở chẩm gáy liên quan đến kinh Thái dương, đau ở đỉnh đầu liên quan đến mạch Đốc hoặc kinh Túc quyết âm.

Nhưng tác dụng quan trọng nhất của kinh lạc là áp dụng để điều trị và đã hình thành môn châm cứu. Trên 14 đường kinh có những điểm kích thích còn gọi là huyệt có tác dụng trị bệnh. Cho tới hiện nay trên 14 đường kinh có tất cả là 361 tên huyệt, kể cả các huyệt đôi thì Tổng cộng là 670 huyệt (con số do bài viết đưa ra).

3. Tác dụng tổng quát trị bệnh

- Nơi kinh lạc đi qua trị bệnh tại nơi đó.
- Các huyệt phần đầu mặt phần lớn trị bệnh tại cục bộ nhưng có một số huyệt như Bách Hội, Nhân trung, Tố liêu, Phong phủ trị chứng bệnh thần kinh, tâm thần.
- Các huyệt ở thân mình không những trị bệnh tại chỗ mà còn có tác dụng đối với toàn thân. Như huyệt vùng ngực bụng trị được bệnh tại chỗ, bệnh nội tạng, bệnh cấp. Huyệt vùng lưng trị bệnh tại chỗ, bệnh nội tạng, bệnh mãn tính. Các huyệt như Đản trung, Quan nguyên, Khí hải, Đại chung, Mệnh môn, Thận du còn trị bệnh toàn thân.
- Các kinh dương ở tay chân: Các huyệt ở mu bàn chân, bàn tay đều có thể trị các chứng bệnh ở đầu mặt, ngũ quan, bệnh sốt và bệnh tâm thần. Các huyệt ở cẳng tay, cẳng chân đều có thể trị các bệnh tạng phủ bao gồm các bệnh ở ngực, bụng, lưng mà phần lớn các huyệt của các kinh dương ở bàn tay còn có thể trị được bệnh ở vai lưng, cổ đầu mặt. Các huyệt ở cánh tay đùi, trị các bệnh tại cục bộ.
- Các kinh âm ở tay chân: Các huyệt ở lòng bàn tay bàn chân đều trị các bệnh ở họng, ngực, phổi, bệnh tâm thần nhưng một số huyệt ở các kinh âm ở chân còn trị bệnh của hệ tiết niệu sinh dục, bệnh can tỳ thận – các huyệt ở cẳng tay cẳng chân trị bệnh ngũ tạng trong đó huyệt của các kinh âm ở tay trị bệnh: tâm phế, tâm bào; huyệt của các kinh âm ở chân trị bệnh can, tỳ, thận, làm chính. Nói chung các huyệt ở cánh tay, đùi trị các bệnh tại chỗ.
- Các huyệt thuộc tạng phủ ngoài việc điều trị các tạng phủ đó còn có thể trị bệnh các tạng phủ biểu lý tương ứng.

Hệ kinh lạc được ghi nhận từ các y gia cổ, cách đây hàng ngàn năm và có giá trị cho đến hiện tại. Hiểu và nắm rõ các quy luật tuần hoàn của hệ kinh lạc thì chúng ta sẽ có kiến thức tự phòng bệnh cho bản thân, dưỡng sinh thuận lẽ trời đất, kinh lạc. Người thầy thuốc đông y phải biết vận dụng vào đó mà điều trị bệnh lý sao cho phù hợp nhất.

Bác sĩ: Minh Nguyễn (Thọ Xuân Đường)

Các tin tức khác